Tìm kiếm
E-mail
Mật khẩu
Câu hỏi khảo sát
Bạn có thích tiếng Hàn Quốc không
Rất thích
Không thích
Bình thường

Nghiên cứu > Ngôn ngữ Hàn Quốc
Khúc dạo đầu cho hòa bình: Sự hoà hợp hai miền Nam-Bắc trong văn hóa đại chúng CHUYÊN ĐỀ 1 Quan hệ Nam-Bắc và tâm lý tình cảm của đại chúng qua phim ảnh
21/12/2018 GMT+7

Khúc dạo đầu cho hòa bình:
Sự hoà hợp hai miền Nam-Bắc trong văn hóa đại chúng


CHUYÊN ĐỀ 1

Quan hệ Nam-Bắc và tâm lý tình cảm của đại chúng qua phim ảnh


65 năm sau chia cắt đất nước và chiến tranh, trên bán đảo Hàn nơi chiến tranh lạnh vẫn còn đang tiếp diễn, nhận thức của người dân Hàn Quốc về Triều Tiên thay đổi ra sao? Văn hóa đại chúng, đặc biệt là phim ảnh, chính là lĩnh vực thể hiện rõ nhất những thay đổi đó. Xem những bộ phim về Triều Tiên được trình chiếu từ lúc diễn ra Hội nghị thượng đỉnh liên Triều đầu tiên vào năm 2000 cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta có thể cảm nhận được những thay đổi trong cách nhìn nhận mối quan hệ liên Triều trong xã hội Hàn Quốc.

Phim “Shiri” (1999), của đạo diễn Kang Je-gyu

Phim “Ẩn thân” (2013), của đạo diễn Jang Cheol-soo

Phim “Khu vực an ninh chung JSA” (2000), của đạo diễn Park Chan-wook

Phim “Taegukgi” (2004), của đạo diễn Kang Je-gyu

Phim “Chào mừng đến với Dongmakgol” (2005), của đạo diễn Park Kwang-hyun

Phim “Hồ sơ Berlin” (2012), của đạo diễn Ryoo Seung-hwan

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


Các nhà hoạt động từ miền Nam và miền Bắc đặt ý thức hệ của họ sang một bên, và cùng nhau chấm dứt chiến tranh hạt nhân giữa một nỗ lực đảo chính ở Triều Tiên.

Lịch sử điện ảnh Hàn Quốc được chia thành hai giai đoạn trước và sau bộ phim “Chiến dịch Shiri”.
“Chiến dịch Shiri” của đạo diễn Kang Je-gyu được khởi chiếu năm 1999 đã tạo nên một tiếng vang rất lớn. Điều này không phải hoàn toàn không liên quan với con số kỷ lục 2,45 triệu khán giả xem phim chỉ tính riêng ở Seoul và 5,82 triệu trên toàn quốc. Tính đến thời điểm đó, tác phẩm điện ảnh về pansori (một loại hình âm nhạc truyền thống của Hàn Quốc) với tựa đề “Sopyonje” của đạo diễn Im Kwon-taek được khởi chiếu năm 1993 là bộ phim duy nhất đạt mức trên một triệu người xem ở Seoul.
Khi đó, do phim nước ngoài được đầu tư với chi phí sản xuất khổng lồ được nhập ồ ạt vào Hàn Quốc, phim Hàn Quốc phải chật vật sinh tồn trong chế độ hạn ngạch điện ảnh. Trong bối cảnh như vậy, “Chiến dịch Shiri” là tác phẩm cho thấy chắc chắn rằng phim bom tấn Hàn Quốc hoàn toàn có đủ khả năng giành phần thắng. Chi phí sản xuất được đầu tư cho bộ phim này là 3,1 tỷ won và đây có thể được xem là mức chi phí sản xuất cao nhất cho đến lúc bấy giờ. Thành công vang dội của bộ phim đã đẩy mạnh sự nghiệp sản xuất phim bom tấn của điện ảnh Hàn Quốc và tác phẩm này trở thành bước đệm cho sự tăng trưởng của điện ảnh Hàn Quốc như một ngành công nghiệp văn hóa.
Tuy nhiên, điều cần lưu ý ở đây là yếu tố nào đã mang đến thành công cho “Chiến dịch Shiri” như vậy? Chúng ta có thể kết luận ngắn gọn rằng, đó là vì tác phẩm đã mạnh dạn mang đề tài quan hệ liên Triều vốn đang có nhiều bước biến chuyển vào trong phim.

Chủ đề mới, Cách nhìn mới
Phim “Chiến dịch Shiri” (hay “Swiri”) nói về trận chiến ngăn chặn kế hoạch khởi động chiến tranh với Hàn Quốc của một nhóm khủng bố Triều Tiên. Cảnh quay ở sân vận động nơi diễn ra màn đối đầu gay cấn giữa các điệp viên Triều Tiên và nhân viên tình báo Hàn Quốc mô tả chính xác mối quan hệ Nam – Bắc vào thời điểm đó. Nếu như trận bóng giao hữu hai miền Nam – Bắc với sự trực tiếp chứng kiến của lãnh đạo hai miền tạo ra bầu không khí hòa giải liên Triều thì ngược lại, sự xuất hiện của nhóm khủng bố Triều Tiên thể hiện không khí căng thẳng và thù địch vẫn còn tồn tại trong xã hội Hàn Quốc. Dù vậy, khán giả vẫn đồng cảm với câu chuyện tình yêu của nhân vật nam nữ chính dù họ buộc phải chĩa súng vào nhau do lý tưởng khác nhau. Bộ phim phản ánh được những biến chuyển trong tâm lý tình cảm của người dân Hàn Quốc khi họ đang cố gắng xem Triều Tiên là những người cùng một dân tộc, chứ không phải “kẻ thù” như trong thời kỳ trước.

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


Một nhóm gián điệp được tuyển chọn của miền Bắc trước trận đổ bộ Incheon của lực lượng U.N vào tháng 9 năm 1950, đã làm đảo ngược làn sóng của cuộc chiến liên Triều.

Mở rộng thể loại phim
Sau khi mang lại thành công rực rỡ cho bộ phim bom tấn Hàn Quốc “Chiến dịch Shiri”, đạo diễn Kang Je-gyu trở lại thật ấn tượng với tác phẩm “Cờ thái cực giương cao” (“Taegukgi”) với quy mô hoành tráng hơn vào năm 2004. Nối tiếp chính phủ Kim Dae-jung, chính phủ Roh Moo-hyun cũng theo đuổi mối quan hệ hòa giải với Triều Tiên. Giờ đây, phim về quan hệ liên Triều bắt đầu hướng đến đề tài chiến tranh hai miền và bắt đầu thể hiện những quan điểm hoàn toàn khác với phim được sản xuất vào thời chống chủ nghĩa cộng sản trước đây. Đó là cách nhìn sâu vào những con người bên trong cuộc chiến, chứ không phải cuộc chiến.
Gián tiếp miêu tả bi kịch số phận các thành viên của một đội đặc nhiệm được huấn luyện khắc nghiệt để bí mật tấn công Triều Tiên, bộ phim “Biệt đội ám sát” (“Silmido”, 2003) của đạo diễn Kang Woo-suk vượt mức 10 triệu người xem lần đầu tiên trong lịch sử điện ảnh Hàn Quốc. Năm sau đó, phim “Taegukgi” trở thành tác phẩm thứ hai vượt mức 10 triệu khán giả. Phim nói về tình anh em và quá trình một gia đình bị phá hủy tàn khốc trong bi kịch Chiến tranh liên Triều.

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


Làn sóng thương mại hóa
Trong khoảng thời gian đó, các bộ phim về đề tài quan hệ hai miền Nam – Bắc cũng bắt đầu hoà mình theo xu thế thương mại hóa. “Kẻ không đối thủ” (“A Better Tomorrow”, 2010) của đạo diễn Song Hae-sung tuy có sự xuất hiện của nhân vật đào thoát từ Triều Tiên nhưng bộ phim này thử nghiệm thể loại phim Noir [phim đen], theo dạng phim “Bản sắc anh hùng” trước đây. Tên phim bao hàm hai ý nghĩa “Kẻ không đối thủ” và “Kẻ không quốc tịch”, và là thể loại hành động theo kiểu phim Noir với định kiến và hoang tưởng cho rằng “những kẻ đào thoát từ Triều Tiên đều là vũ khí giết người”. Điều này được dựa trên suy đoán mơ hồ rằng người Triều Tiên có điều gì đó khác thường và luôn có một cuộc sống vô cùng khó khăn. Vì vậy, tác phẩm này tạo ra các pha hành động phi thực tế kiểu như phim chiến tranh và trong phim, các nhân vật đào thoát từ Triều Tiên được mô tả như những con người đáng sợ đến nỗi các băng nhóm xã hội đen của Hàn Quốc còn phải khiếp sợ.

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


Sau đó, quan hệ giữa Nam – Bắc được đề cập trong phim Hàn Quốc cũng không thể thoát ra khỏi xu thế thương mại hóa, vẫn đi theo thể loại hài kịch, hình sự và kinh dị. Hình ảnh lính Triều Tiên trong những tác phẩm này đều được xây dựng thành những nhân vật kiểu như “vũ khí giết người”. Điểm đáng chú ý là các bộ phim được sản xuất trong thời kì này tuy không phải là phim chống chiến tranh nhưng lại thể hiện quan điểm bảo thủ. Hai tác phẩm tiêu biểu là “Cuộc chiến ở Yeonpyeong” (“Northern Limit Line”) được sản xuất năm 2015 và “Trận đánh Incheon” (“Operation Chromite”) được sản xuất năm 2016. “Cuộc chiến ở Yeonpyeong”, với nội dung xoay quanh cuộc giao chiến có thật giữa hai miền Nam – Bắc ở vùng biển phía Tây vào tháng 6 năm 2002, đã thu hút 6 triệu khán giả. Bộ phim này từng gây ra tranh cãi khi bị đưa vào danh sách kiểm duyệt trước khi sản xuất do có nhiều ý kiến ngờ vực phim này quá thiên về hướng bảo thủ trên phương diện ý thức hệ. Tuy nhiên, bộ phim cho thấy rằng hệ tư tưởng cũng có thể được thương mại hóa. Các đoàn thể lính Hàn Quốc cũng kéo đến rạp xem phim, số lượng phòng chiếu phục vụ cho phim này tăng từ 667 phòng trong ngày đầu tiên lên đến 1.013 phòng sau năm ngày, gây ra tranh cãi về vấn đề độc quyền phòng chiếu phim.

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


Trí tưởng tượng của điện ảnh và hiện thực
Khởi chiếu vào năm 2017, bộ phim “Nam Hán Sơn Thành” (“Namhansanseong”, hay “The Fortress”) của đạo diễn Hwang Dong-hyuk nói về bối cảnh tình hình lịch sử của cuộc xâm lược triều đại Joseon lần thứ hai của nhà Thanh được gọi là “Bính Tý Hồ Loạn” năm 1636. Tuy nhiên, bộ phim gặp phải những quan điểm khác nhau trong cách nhìn nhận mối quan hệ liên Triều do cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên đang trong giai đoạn cao trào. “Nam Hán Sơn Thành” nói về những tranh cãi mang tính lịch sử giữa vị quan văn theo phái chủ chiến Kim Sang-heon (1570–1652) và người theo phái chủ hòa Choe Myeong-gil (1586–1647), cũng chính là những quan điểm đối lập giữa phái bảo thủ và cấp tiến đối với mối quan hệ liên Triều lúc bấy giờ.

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


----------------------------------------------------

HÌNH ẢNH NGƯỜI ĐÀO THOÁT TỪ TRIỀU TIÊN
TRONG PHIM ĐỘC LẬP HÀN QUỐC

Ưu điểm lớn nhất của phim độc lập chính là tạo ra những thước phim miêu tả một cách chân thật nhất những đề tài bị lợi ích thương mại bỏ rơi. Một số phim độc lập đang cố gắng phản ánh trực diện những vấn đề người tị nạn Triều Tiên đang gặp phải trong xã hội tư bản Hàn Quốc để minh chứng cho sự tồn tại “độc lập không phụ thuộc tư bản” của mình.

Phim “Ryeon-hui và Yeon-hui” lột tả hiện thực mà hai người phụ nữ, một là người Triều Tiên đào thoát khỏi miền Bắc và đang vật lộn với cuộc sống định cư tại miền Nam và một là người Hàn Quốc trốn thoát khỏi gia đình do phải chịu đựng sự đàn áp của chế độ gia trưởng.

Tác phẩm phim độc lập được khởi chiếu cuối năm 2017 với tựa đề “Ryeon-hui và Yeon-hui” (“The Nameshake”) nói về hai phụ nữ có tên giống nhau nhưng được phát âm khác nhau do hai miền bán đảo Hàn có phát âm khác nhau. Mất đi đứa con gái trong quá trình đào thoát khỏi miền Bắc, Ryeon-hui sống và làm thêm ở một cửa hàng tiện lợi với vết thương sâu thẳm trong lòng. Yeon-hui lén lút lấy cắp miếng cơm cuộn đã quá hạn sử dụng tại cửa hàng tiện lợi nơi Ryeon-hui đang làm việc nhưng bị phát hiện, và từ đó hai người quen nhau.
Ryeon-hui và Yeon-hui cùng có một cuộc sống cực khổ ở Hàn Quốc. Cả khách đến mua hàng ở cửa hàng tiện lợi lẫn sinh viên làm thêm ở đó đều tỏ ý khinh thường Ryeon-hui chỉ vì cô là người đào thoát từ miền Bắc. Cuộc sống của Yeon-hui cũng không khá hơn mấy. Khó khăn lắm cô mới “trốn thoát” ra khỏi nhà, trốn khỏi người cha bạo lực của mình, nhưng thế gian bên ngoài cũng đối xử lạnh lẽo với cô. Thậm chí Yeon-hui còn suýt bị quấy rối tình dục trong công viên khi đang mang trong mình bào thai cô cũng không biết cha nó là ai.

Tình bạn trong sự cô lập

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


Phản hồi của quốc tế
Ngoài ra, một phim khác “Nhật ký của Musan” (“The Journal of Musan”, 2010) là bộ phim độc lập giành đến 16 giải thưởng quốc tế, trong đó có giải Tiger Award tại Liên hoan Phim Quốc tế Rotterdam và giải Liên đoàn Nhà phê bình điện ảnh Quốc tế, giải đặc biệt tại Liên hoan Phim Tarkovsky Nga,… Khi trao giải thưởng cho tác phẩm này, Liên hoan Phim Quốc tế Reel Asian Toronto đã có lời bình: “Trong câu chuyện khô khan nhưng đầy cảm động về người tị nạn Triều Tiên, chúng ta có thể thấy được sự đấu tranh cao cả của con người để thích nghi với môi trường mới. Để tôn vinh cho ý chí sinh tồn thành tâm và mãnh liệt mà nhân vật chính đã thể hiện thành công, tất cả thành viên Hội đồng giám khảo đồng tâm nhất trí chọn tác phẩm này để trao giải thưởng.”

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


Jung Duk-hyun Nhà phê bình Văn hóa đại chúng
Nguyễn Ngọc Trâm Oanh Dịch

*XEM TOÀN VĂN TẠI ĐÂY*


Nguồn: Tạp chí Koreana - Văn hóa Nghệ thuật Hàn Quốc, số Mùa thu 2018 (vol 5, no.3) phiên bản tiếng Việt (click here)

*Vì lý do bản quyền nên chúng tôi chỉ trích giới thiệu một đoạn nhỏ trong bài viết. Bạn đọc vui lòng nhấp vào đường link trên để đọc toàn văn bài viết.

KHOA HÀN QUỐC HỌC - FACULTY OF KOREAN STUDIES - 한국학부
In bài này
Gửi thư hỏi đáp
Trở về 
*Ý kiến bạn đọc:
Các tin mới
Các tin khác
Nghiên cứu